THỰC TRẠNG NHẬN THỨC VỀ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ BẢO VỆ RỪNG CỦA NGƯỜI DÂN THAM GIA NHẬN KHOÁN BẢO VỆ RỪNG Ở BÌNH PHƯỚC

22:27,27-12-2022 | Tác giả: Phạm Văn Hường - Trường Đại học Lâm nghiệp – Phân hiệu tại Đồng Nai, Lê Tuấn Sơn - Ban quản lý Rừng phòng hộ Bù Đốp
Xem với cỡ chữ | Từ viết tắt

Bài viết này đi đánh giá thực trạng nhận thức của bên nhận khoán BVR về tài nguyên rừng, bảo vệ rừng ở địa bàn tỉnh Bình Phước với mục tiêu cung cấp cơ sở căn cứ cho xây dựng định hướng, giải pháp tổ chức hiệu quả hoạt động KBVR, QLRBV trong thời gian tới.


1. ĐẶT VẤN ĐỀ
            Để thực hiện tốt nguyên tắc hoạt động lâm nghiệp là: Rừng được quản lý bền vững về diện tích và chất lượng, bảo đảm hài hòa các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo tồn đa dạng sinh học, nâng cao tỷ lệ che phủ rừng, giá trị dịch vụ môi trường rừng và ứng phó với biến đổi khí hậu. Xã hội hóa hoạt động lâm nghiệp; bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước với lợi ích của chủ rừng, tổ chức, cá nhân hoạt động lâm nghiệp (Luật Lâm nghiệp, 2017). Các đơn vị chủ rừng là tổ chức trên địa bàn tỉnh Bình Phước đã thực hiện công tác khoán bảo vệ rừng (KBVR) với các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng trong những năm qua. Kết quả công tác khoán BVR đã góp phần quan trọng cho việc thực hiện quản lý rừng bền vững, gắn phát triển rừng với phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng ở địa phương. Tuy nhiên, trong quá trình tổ chức thực hiện khoán BVR còn gặp không ít khó khăn như việc vi phạm quy chế quản lý rừng, vi phạm hợp đồng khoán BVR, hoặc chưa phát huy hết tiềm lực của các bên tham gia vào công tác KBVR (BQL RPH Bù Đốp, 2021; VQG Bù Gia Mập, 2020). Do vậy, để xây dựng các giải pháp, định hướng cho thực hiện KBVR cũng như quản lý rừng bền vững (QLRBV), gắn với phát triển KT-XH của địa phương đỏi hỏi cần có sự hiểu biết sâu sắc và nắm rõ được nhận thức của người dân tham gia nhận KBVR (Cao Thị Lý và cs, 2016; Hoàng Thị Thanh Nhàn, 2015). Trong khi, cho đến nay những phân tích, đánh giá nhận thức của bên nhận KBVR còn rất ít được nghiên cứu, thiếu cơ sở dữ liệu. Xuất phát từ thực tiễn yêu cầu đó bài viết này đi đánh giá thực trạng nhận thức của bên nhận khoán BVR về tài nguyên rừng, bảo vệ rừng ở địa bàn tỉnh Bình Phước với mục tiêu cung cấp cơ sở căn cứ cho xây dựng định hướng, giải pháp tổ chức hiệu quả hoạt động KBVR, QLRBV trong thời gian tới.


2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
            Đối tượng khảo sát của bài viết là các cá nhận, hộ gia đình và cộng đồng tham gia nhận khoán bảo vệ rừng với chủ rừng là Vườn quốc gia (VQG) Bù Gia Mập, Ban quản lý (BQL) rừng phòng hộ (RPH) Bù Đốp, BQL RPH Đắk Mai là 3 đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh Bình Phước đang tổ chức thực hiện khoán BVR với cá nhân, hộ gia đình và cộng địa phương.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp rút mẫu điều tra, mẫu đưa vào điều tra thông tin dữ liệu xã hội học và phỏng vấn là các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng tham gia nhận khoán với 3 đơn vị chủ rừng là tổ chức nhà nước. Dung lượng mẫu được sử dụng theo phương pháp rút mẫu hệ thống, phân tầng. Tổng cộng mỗi chủ rừng chọn ngẫu nhiên 50 người thuộc đối tượng đang tham gia nhận khoán BVR với chủ rừng, tổng cộng có 150 người được chọn phỏng vấn.
Phương pháp phỏng vấn – điều tra xã hội học. Nội dung phỏng vấn là các câu hỏi của bảng hỏi được lập sẵn (Vũ Thị Bích Thuận, 2015; Diệp Thanh Tùng và cs, 2018). Trong đó có bảng câu hỏi nhận thức của người dân (bên nhận khoán) về tài nguyên rừng (TNR), bảo vệ rừng (BVR); nhận thức về trách nhiệm rừng bảo vệ rừng của các bên liên quan. Hình thức phỏng vấn trực tiếp.
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1. Thực trạng nhận thức của bên nhận khoán về TNR và BVR
3.1.1. Nhận thức về giá trị của tài nguyên rừng
Từ kết quả khảo sát về nhận thức về giá trị của tài nguyên rừng của người dân tham gia nhận khoán BVR (KBVR) với 3 chủ rừng trên địa bàn tỉnh Bình Phước, kết quả được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Nhận thức bên nhận khoán BVR về giá trị của tài nguyên rừng
Nhóm Các giá trị của tài nguyên rừng Ký hiệu Mức nhận thức: Không trả lời
rất rõ biết mơ hồ không biết
Kinh tế Cung ứng cho xã hội gỗ, VLXD KT1 62,9 31,0 4,3 1,7 3,3
Cung ứng dược liệu KT2 39,8 44,9 10,2 5,1 1,7
Cung ứng lương thực, thực phẩm KT3 30,7 42,1 19,3 7,9 5,0
Môi trường sinh thái Điều tiết nguồn nước, phòng chống lũ, lụt, xói mòn MT1 37,0 43,7 19,3 0,0 0,8
Cải tạo đất, tăng độ phì cho đất MT2 30,8 50,8 14,2 4,2 0,0
Cải tạo và điều hòa không khí MT3 56,7 29,2 10,0 4,2 0,0
Chống hiện tượng sa mạc hóa MT4 23,3 45,8 22,5 8,3 0,0
Chứa đựng nguồn gene quý MT5 28,4 49,1 15,5 6,9 3,3
Tạo cảnh quan thiên nhiên đẹp MT6 23,2 40,2 28,6 8,0 6,7
Bảo vệ các công trình, mùa màng MT7 14,0 44,9 29,0 12,1 10,8
Văn hóa, xã hội Chứa đựng, hình thành văn hóa XH1 17,8 32,2 37,3 12,7 1,7
Công ăn việc làm cho người dân XH2 40,3 50,4 9,2 0,0 0,8
Khác Các giá trị khác KH 9,2 18,4 62,2 10,2 18,3
  Trung bình   31,9 40,2 21,7 6,3 4,0
Số liệu tại bảng 1, chỉ cho thấy: ngoài 4,0% số người được hỏi đã không trả lời, thì đa số người được hỏi đã có sự hiểu biết về những giá trị của tài nguyên rừng ở các mức độ nhận thức khác nhau. Trong đó, có 31,9% số người được hỏi nhận thức rất rõ ràng về các giá trị của rừng mang lại, 40,2% người có nhận thức về giá trị của rừng ở mức biết. Số người còn mơ hồ về giá trị của rừng là 21,7%. Tuy nhiên, trong số người được hỏi thì còn 6,3 người không biết hoặc chưa có ý niệm về giá trị của tài nguyên rừng. Trong số các nhóm giá trị của tài nguyên rừng được bên nhận khoán BVR nhận thực rất rõ ràng với mức trên 31,9% gồm có: giá trị cung cấp gỗ và VLXD; cung ứng nguồn dược liệu; điều tiết nguồn nước, phòng chống lũ, lụt và xói mòn đất; cải tạo và điều hòa không khí và tạo công ăn việc làm cho người dân. Nhận thức của bên nhận khoán BVR ở mức biết về các giá trị của tài nguyên rừng có khác nhau, giao động từ 18,4% - 49,1%. Tuy nhiên, một bộ phận người được hỏi (21,7%) còn mơ hồ về các giá trị của tài nguyên rừng, các giá trị của tài nguyên rừng mà tỷ lệ người dân còn mơ hồ cao như: rừng chứa đựng và hình thành văn hóa; rừng bảo vệ các công trình, bảo vệ mùa màng của người dân; rừng tạo cảnh quan thiên nhiên đẹp; rừng chống sa mạc hóa,… Một điểm cần chú ý khi tỷ lệ người được hỏi chưa có sự hiểu biết về giá trị của rừng còn chiếm tỷ lệ nhất định (6,3%). Nhìn chung, người dân (bên nhận khoán BVR) trên địa bàn tỉnh Bình Phước có nhận thức đầy đủ và ở mức rõ ràng và biết khá cao, với trên 70% số người tham gia nhận khoán BVR đã nhận thức được các giá trị của rừng.
3.1.2. Nhận thức về nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng
 Những sự hiểu biết, nhận thức về các nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên rừng của bên nhận khoán BVR trên địa bàn tỉnh Bình Phước được tổng hợp ở bảng 2.
Bảng 2. Nhận thức của bên nhận khoán BVR về nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên rừng
Nguyên nhân gây suy giảm TNR Khí hiệu Mức nhận thức: Không trả lời
rất rõ biết mơ hồ không biết
Do chặt phá rừng trái phép NN1 47,5 37,5 10,0 5,0 0,0
Do cháy rừng gây ra NN2 47,0 42,7 6,0 4,3 2,5
Do đốt rừng làm nương rẫy NN3 24,8 38,5 35,0 1,7 2,5
Do bom đạn, hóa chất trong chiến tranh NN4 10,0 15,0 60,0 15,0 0,0
Do Nhà nước CĐMĐSD đất rừng NN5 12,5 25,8 55,0 6,7 0,0
Do hoạt động sản xuất công nghiệp NN6 10,4 16,5 68,7 4,3 4,2
Nguyên nhân khác NNK 2,7 11,8 78,2 7,3 8,3
Trung bình   22,1 26,8 44,7 6,3 2,5
 
Từ thông tin ở bảng 2, nhận thấy trong số 97,5% số người được hỏi đã thể hiện quan điểm, nhận thức, hiểu biết của mình về các nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng. Người dân thamg ia nhận khoán BVR đã đều cho rằng có các nguyên nhân làm suy giảm tài nguyên rừng gồm có: chặt phá rừng trái phép; cháy rừng; đốt nương làm rẫy; do bom, đạn, hóa chất sử dụng trong chiến tranh; do chuyển đổi mục đích sử dụng đất rừng sang đất khác; hoạt động sản xuất công nghiệp nguyên nhân khác. Trong số các nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên rừng thì nhận thức và hiểu biết của bên nhận khoán có khác nhau. Có trung bình 22,1% số người được hỏi đã nhận thức rất rõ ràng về các nguyên nhân; 26,8% người có sự hiểu biết về các nguyên nhân; tuy nhiên số người được hỏi còn mơ hồ về các nguyên nhân gây suy thoái còn chiếm tỷ lệ khá cao (44,7%), có 6,3% số người không có sự hiểu biết về các nguyên nhân gây suy thoái. Những nhận thức rất rõ ràng và biết đều nhận định nguyên nhân do chặt phá rừng trái phép, cháy rừng và đốt làm nương rẫy là các nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng. Nhận thức mơ hồ đối với các nguyên nhân gây suy thoái tài nguyên rừng như: hoạt động sản xuất công nghiệp; do bom đạn, hóa chất trong chiến tranh; nhà nước chuyển đổi mục đích sử dụng đất hoặc các nguyên nhân khác còn chiếm tỷ lệ cao.
Từ kết quả phân tích này, cho thấy tuy nhận thức về các nguyên nhân gây suy thoái TNR của bên nhận khoán ở mức rõ ràng và biết chiếm tỷ lệ khá cao, xong tỷ lệ nhận thức ở mức mơ hồ còn chiếm tỷ lệ cao (44,7%), do đó cần quan tâm và có giải pháp nâng cao sự hiểu biết, nhận thức về các nguyên nhân suy thoái TNR cho bên nhận khoán BVR.
3.1.3. Nhận thức về tác hại của suy thoái tài nguyên rừng
Những tác hại do mất rừng đã tác động và chi phối ở mức độ nhất định đến nhận thức của bên nhận khoán BVR trên địa bàn tỉnh (xem bảng 3).
Bảng 3. Nhận thức của bên nhận khoán về tác hại của suy thoái tài nguyên rừng
Tác hại của việc mất rừng TH Mức nhận thức: Không trả lời
rất rõ biết mơ hồ không biết
Gia tăng xói mòn đất TH1 7,5 51,7 34,2 6,7 0,0
Gia tăng lũ, lụt TH2 28,3 42,5 23,3 5,8 0,0
Hiệu ứng nhà kính, El Nino TH3 28,0 40,7 14,4 11,0 5,9
Ô nhiễm môi trường TH4 38,3 43,3 12,5 5,8 0,0
Đa dạng sinh học giảm TH5 10,8 59,2 24,2 4,2 1,7
Nguy cơ ĐV, TV bị tuyệt chủng tăng TH6 10,0 62,5 16,7 10,8 0,0
Thất thoát tài sản của Nhà nước TH7 7,5 19,2 68,3 5,0 0,0
Gia tăng tỷ lệ thất nghiệp TH8 30,8 51,7 15,0 2,5 0,0
Gia tăng tỷ lệ người nghèo, đói TH9 30,8 49,2 16,7 3,3 0,0
Tác hại khác THK 2,5 7,5 65,8 16,7 7,5
Trung bình   19,5 42,7 29,1 7,2 1,5
 
Số liệu ở bảng 3, chỉ cho thấy người dân tham gia nhận khoán BVR với 3 đơn vị chủ rừng ở tỉnh Bình Phước có nhận thức về các tác hại do rừng gây ra khá đầy đủ và phong phú. Khi hỏi bên nhận khoán về 10 tác hại do mất rừng, thì có 19,5% số người được hỏi cho biết họ rất rõ ràng về các tác hại khi rừng bị mất, như: Ô nhiễm môi trường; tăng tỷ lệ thất nghiệp; tăng lỷ lệ đói nghèo; tăng lũ, lụt, hạn hán; gây ra hiệu ứng nhà kính, El Nino,… Có 42,7% số người được hỏi cho rằng họ biết các tác hại do mất rừng gây ra, trong đó họ đều biết mất rừng sẽ gây ra các tác hại về môi trường, kinh tế, xã hội như: gia tăng xói mòn đất, hạn hán, lũ lụt; hiệu ứng nhà kính, El – Nino; ô nhiễm môi trường; giảm đa dạng sinh học; làm cho động vật, thực vật (ĐVTV) bị tuyệt chủng; tăng tỷ lệ thất nghiệp hoặc gia tăng tỷ lệ đói nghèo. Bên cạnh những người dân có sự hiểu biết rất rõ ràng hoặc biết về các tác hại thì còn có 29,1% số người được hỏi còn mơ hồ về các tác hại của mất rừng và 7,2% số người chưa có ý niệm về về các tác hại do mất rừng. Cho đến nay chưa có đánh giá cụ thể và sâu sắc về nhận thức của bên nhận khoán về tài nguyên rừng, xong với kết quả phân tích này có thể thấy được người dân tham gia nhận khoán với 3 đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh Bình Phước có nhận thức, hiểu biết, kiến thức nhất định về tài nguyên rừng, về suy thoái rừng và tác hại của nó.
3.1.4. Nhận thức trách nhiệm bảo vệ rừng của các bên
Kết quả đánh giá về sự hiểu biết của bên nhận khoán BVR về trách nhiệm BVR của các bên liên quan tổng hợp tại bảng 4.
Bảng 4. Nhận thức của bên nhận khoán BVR về vai trò, trách nhiệm của các bên trong bảo vệ rừng
Vai trò, trách nhiệm bảo vệ rừng TN Mức độ nhận thức: Không biết
trực tiếp gián tiếp không
Người dân tham gia nhận khoán TN1 32,5 57,5 6,7 3,3
Chính phủ TN2 9,2 67,5 10,8 12,5
Bộ NN&PTNT TN3 5,8 57,5 29,2 7,5
Cục Kiểm lâm Việt Nam TN4 16,4 65,5 15,5 2,7
Chi cục Kiểm lâm tỉnh TN5 37,5 40,0 10,8 11,7
Hạt Kiểm lâm huyện TN6 35,8 47,5 15,0 1,7
Các chủ rừng TN7 60,8 12,5 20,8 5,8
UBND tỉnh TN8 8,3 55,0 29,2 7,5
UBND huyện/thành phố TN9 5,0 74,2 16,7 4,2
UBND xã/phường TN10 4,2 73,3 14,2 8,3
Nông dân TN11 5,8 81,7 12,5 0,0
Học sinh, thanh thiếu niên TN12 10,0 65,0 25,0 0,0
Các doanh nghiệp liên quan TN13 5,0 64,2 26,7 4,2
Công an, cảnh sát TN14 25,8 58,3 10,8 5,0
Bộ đội, bộ đội biên phòng TN15 16,7 45,8 37,5 0,0
Khác TNK 2,5 7,5 15,0 75,0
 
Bằng cách liệt kê 15 bên liên quan để hỏi về sự hiểu biết của bên nhận khoán về trách nhiệm của các bên với bảo vệ rừng, kết quả cho thấy hiểu biết, nhận thức về trách nhiệm của các bên trong bảo vệ rừng chưa thực sự chuẩn xác. Đối chiếu với quy định về trách nhiệm của các bên liên quan trong luật Lâm nghiệp, 2017 thì thấy rằng nhận thức và hiểu biết của bên nhận khoán về trách nhiệm của các bên có sự sai lệch, đa phần người được hỏi đều trả lời và thể hiện sự nhận thức của mình theo nhận định cảm quan (Luật Lâm nghiệp, 2017). Thực trạng nhận thức này rất có thể là do bên nhận khoán có kiến thức về pháp luật lâm nghiệp còn hạn chế và các kênh thông tin chuyên sâu chưa được tiếp cận hiệu quả. Chính vì vậy có 9,3% không biết về trách nhiệm của các bên trong BVR. Tuy nhiên, điểm đáng chú ý có 32,5% người được hỏi cho rằng bên nhận khoán có trách nhiệm trự tiếp và 57,5% có trách nhiệm gián tiếp trong BVR. Đa phần người dân tham gia nhận khoán BVR cho rằng trách nhiệm trực tiếp trong BVR thuộc về chủ rừng (60,8% người được hỏi); kế đến là cơ quan kiểm lâm (Chi cục Kiểm lâm (37,5%) và Hạt Kiểm lâm (35,8%)).
4. KẾT LUẬN
Các cá nhân, hộ gia đình, cộng đồng tham gia nhận khoán BVR với 3 đơn vị chủ rừng là VQG Bù Gia Mập, BQLRPH Bù Đốp và BQLRPH Đắk Mai thuộc tỉnh Bình Phước có nhận thức đầy đủ các giá trị của rừng. Trong đó, có 31,9% số người được hỏi nhận thức rất rõ ràng; 40,2% có nhận thức ở mức biết. Số người còn mơ hồ về giá trị của rừng là 21,7%. Có 97,5% số người bên nhận khoán đã thể hiện quan điểm, nhận thức, hiểu biết của mình về các nguyên nhân gây suy giảm tài nguyên rừng. Bên cạnh nhận thức của người dân về các tác hại do rừng gây ra khá đầy đủ và phong phú, thì còn 29,1% số người được hỏi còn mơ hồ về các tác hại của mất rừng và 7,2% số người chưa có ý niệm về các tác hại do mất rừng. Nhận thức và hiểu biết của bên nhận khoán về trách nhiệm của các bên trong BVR có sự sai lệch, đa phần người dân tham gia nhận khoán BVR được hỏi đều trả lời và thể hiện sự nhận thức của mình theo cảm quan. Nhìn chung, nhận thức người dân tham gia nhận khoán BVR với 3 đơn vị chủ rừng trên địa bàn tỉnh Bình Phước về TNR và BVR ở mức khá tốt.
           
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Cao Thị Lý, Hưng Bùi Văn (2016). Giải pháp khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong quản lý rừng bền vững tại Công ty Lâm nghiệp Krông Bông, tỉnh Đắk Lăk. Hội nghị toàn quốc về Sinh thái và tài nguyên sinh vật lần thứ 6, 2016.
[2] Luật Lâm nghiệp (2017). số 16/2017/QH14, ngày 15 tháng 11 năm 2017
[3] Hoàng Thị Thanh Nhàn (2015). Quản lý dựa vào cộng đồng – lý luận và thực tiễn. Kỷ yếu hội thảo quốc gia “Cơ sở lý luận và thực tiễn ứng dụng mô hình quản lý dựa vào cộng đồng trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”. Hà Nội NXB Hồng Đức.
[4] Vũ Thị Bích Thuận (2015). Đánh giá sự tham gia của các bên liên quan trong quản lý rừng đặc dụng vùng Tây Bắc. Tạp chí khoa học lâm nghiệp 1/2015: 3717-26.
[5] Diệp Thanh Tùng, Nhàn Phan Thị Thanh (2018). Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ tham gia của hộ gia đình trong quản lý, bảo vệ và phát triển rừng tại tỉnh Trà Vinh. Tạp chí Khoa học Nông nghiệp Việt Nam 16(12): 1112-9.
[6] BQL RPH Bù Đốp (2021). Báo cáo công tác khoán bảo vệ rừng năm 2021 và phương hướng nhiệm vụ năm 2022. Bù Đốp.
[7] VQG Bù Gia Mập (2020). Báo cáo kết quả thực hiện Nghị định số 168/2016/NĐ-CP và Nghị định số 75/2015/NĐ-CP tại VQG Bù Gia Mập. Bù Gia Mập.
 

Tin liên quan

Trưởng Ban biên tập: TS. Trần Quốc Hoàn - Phó Giám đốc Sở KHCN

Ghi rõ nguồn Sở KH&CN Bình Phước khi phát hành lại thông tin từ Website này

Địa chỉ: 678 Quốc lộ 14, phường Tân Phú, thành phố Ðồng Xoài, Bình Phước

Điện thoại: 02713.879.112- Fax: 02713.879.113

Email: tsokhcn@binhphuoc.gov.vn